Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts

2/20/15

Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba

Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn người Việt của nhà nước và cả giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn lặng lẽ và đang ngày càng tỏ ra quyết liệt với những quan điểm mới, nhiều khi cực đoan nhưng không phải không có lý. Tất cả cho thấy quả thật rất có vấn đề trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt

Truy tìm nguồn gốc người Việt ngỡ như đã xong bỗng gần đây được xới lên, nhất là trên mạng, nơi có điều kiện bày tỏ quan điểm một cách khá bình đẳng. Theo dõi những cuộc trao đổi này, chúng tôi chợt nhận ra vẫn còn những câu hỏi vô cùng lớn về nguồn gốc người Việt chưa được giải đáp.
Tóm tắt vấn đề như sau (xin chỉ nêu tên tác giả mà không dẫn nguồn, cho gọn):
- Theo quan điểm chính thống của giới sử học hiện nay thì người Việt là người bản địa, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn và phát triển xuyên suốt từ đó đến nay trên địa bàn nước Việt Nam, đã nhận nhiều tác động từ bên ngoài, đã có nhiều biến đổi, đã tập hợp thêm nhiều nhóm dân tộc khác vào cộng đồng nói tiếng Việt và đã trở thành một khối thống nhất không thể tách rời, với một lịch sử đã được nghiên cứu hầu như đã đầy đủ và rõ nét
Tuy vậy, sự mạnh mẽ và quan phương của quan điểm này vẫn không ngăn nhiều người nêu ra những nghi hoặc về cội nguồn nếu không thể kết nối được nó với dân tộc anh em nào khác nữa, xa hơn về trước. Tại sao các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, H’Mông, Mèo, Dao... đều tìm thấy người anh em của họ ở ngoài biên giới của bất kể nước nào trong khu vực, cớ sao người Việt lại không tìm thấy anh em nào của mình ở trên các nước khác? Liệu đó có phải là hệ quả của một sự hình thành cộng đồng Việt rất muộn, tức Việt mới, do tổng hợp từ nhiều nguồn dân tộc khác nhau. Và điều này xảy ra trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc hoặc thậm chí muộn hơn nữa, thế kỷ XIII, XIV? (Các nhóm người Việt, gọi là người Kinh, ở Quảng Đông và Quảng Tây - Trung Quốc nay đều là những di dân Việt vào các thế kỷ gần đây).
- Từ giữa thế kỷ XX về trước, dựa trên các tư liệu huyền sử như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Triệu Đà, An Dương Vương và nhất là 18 đời vua Hùng, nhiều tác giả cho rằng người Việt có nguồn gốc từ phương Bắc, gốc từ các tộc người Hán di cư về châu thổ sông Hồng và tạo nên tộc người Việt như ta thấy trong sử liệu chính thức. Đại diện cho quan điểm này là nhà nghiên cứu Nguyễn Phương, học giả Đào Duy Anh...
- Gần với quan niệm này thì cho rằng người Việt nay là cùng trong nhóm cộng đồng Bách Việt vốn phát triển khá rực rỡ ở phía Nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc). Người Hán khi tiến vào Hoa Hạ đã tiếp thu rồi nâng cao rất nhiều từ nền văn minh này. Trong thời nhà Đường, nhiều nhóm người Việt (thuộc Bách Việt) đã hoàn toàn nhập vào với văn hóa Hán và trở thành một phần của nước Trung Hoa 1,4 tỉ dân hiện nay. Riêng nhóm Việt ở Phú Thọ - Mê Linh tuy cũng bị 1.000 năm cai trị của các triều đại Trung Hoa nhưng vì một lý do nào đó vẫn giữ được ý thức dân tộc và đến thời Ngô Quyền thì giành được độc lập, giữ được nền độc lập đó cho đến tận nay. Và có thể nói cộng đồng Việt thuộc An Nam là đại diện xuất sắc và điển hình nhất của cộng đồng Bách Việt này. Đại diện cho quan điểm này là Lê Mạnh Thát, Hà Văn Thùy, Nguyễn Đức Tố Lưu...
- Tác giả Phan Duy Kha và các bạn hữu nêu ra cội nguồn người Việt nào đó ở về phía Nam, vùng núi Khu 4 cũ, từ Vinh (Nghệ An) đến Hà Tĩnh, đã tiến ra vùng Việt Trì (Phú Thọ) để tạo nên văn hóa Đông Sơn rồi sau đó trở lại nâng cao và sáp nhập vùng Khu 4 vào Việt (hậu).
- Bình Nguyên Lộc một mình vạch ra một hướng tiếp cận khác. Ông đưa ra nhiều bằng chứng và quan trọng nhất là với vốn từ vựng đang có thì người Việt phải có nguồn gốc từ Mã Lai Đa Đảo, tức cộng đồng các tộc người hiện đang sống ở các nước như Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và dĩ nhiên: Việt Nam. Chỉ vì tiếp thu một phần ngôn ngữ văn hóa của người Hán trong ngàn năm Bắc thuộc mà người Việt đã trở thành xa cách với cội nguồn Mã Lai của mình. Quan điểm của Bình Nguyên Lộc dù đã được giới nghiên cứu chỉ ra nhiều thiếu sót nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ về lý do vốn từ vựng to lớn có nguồn gốc Mã Lai trong vốn từ của người Việt (việc cùng nguồn gốc ngữ hệ Nam Á không trả lời được hết các ví dụ Bình Nguyên Lộc nêu ra).
- Gần đây, GS Liam Kelley (Đại học Hawaii, Mỹ) đã xới lại vấn đề nghi ngờ cội nguồn phương Bắc và cả cội nguồn bản địa của người Việt, cũng không thiên về cội nguồn Mã Lai như Bình Nguyên Lộc. Người Việt là ai thì Liam Kelley chưa nêu câu trả lời nhưng ông đang chứng minh ngày càng rõ nét rằng những thứ mà ta tự hào và tin rằng nó vốn của người Việt từ lâu nay thì thật ra đều là của người Thái. Vài ví dụ: Người Thái ở phía Nam Trung Quốc vẫn đang dùng trống đồng và cái khèn nhạc cụ - thứ có trên trống đồng, trong khi người Việt thì hoàn toàn không còn biết đến 2 loại nhạc cụ này từ rất lâu rồi. Người Việt là người Thái quên gốc gác hay thực sự là một dân cư khác đến chiếm lĩnh vùng đất này? Hay sự hình thành do tổng hòa văn hóa và ngôn ngữ của các cư dân cùng chung sống ở châu thổ sông Hồng?
Vậy thì người Việt từ đâu mà có? Câu trả lời chưa rõ song vấn đề đang được đặt lại một cách lý thú và khoa học hơn. Nếu sự hình dung nguồn gốc của người Việt thời Pháp thuộc là cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ nhất và vẫn được kế thừa, phát triển đến hiện nay thì cuộc truy tìm lần thứ hai của những nhà nghiên cứu sử học nghiệp dư như Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Phương, Công Đình Thanh, Hà Văn Thùy đã cho thấy vấn đề cần phải được nhìn rộng hơn ở ngoài biên giới nước Việt nay; thậm chí phương pháp nhân chủng, đo sọ, di truyền cũng đã được sử dụng để tìm nguồn gốc người Việt. Và đến nay, cuộc đặt lại vấn đề nguồn gốc người Việt lần thứ ba đã hình như được bắt đầu, thuận lợi của lần này là sự công bố và các ý kiến phản biện đều được thể hiện rất nhanh chóng, như tất cả đều đang ở trong một nhà và mọi ý kiến đều có thể trao đổi và được tranh luận ngay khi được phát biểu. Đặc điểm của lần này chính là sự tham gia của các quan điểm nhân học hiện đại, nhắm đến mục tiêu sự dịch chuyển của các tộc người chứ không hề còn là cuộc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến nào. Việc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến thuần nhất, xuyên suốt từ cổ đại đến nay như Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt - người Mường vừa xuất bản năm 2014 ngay lập tức đã tỏ ra không thuyết phục mặc dù công trình khá dày dặn.
Đây là cuộc thảo luận khoa học rõ ràng là lý thú và khá hấp dẫn. Nhiều tranh luận gay gắt đã được thể hiện. Tác giả bài viết này cùng bạn hữu cũng đang ấp ủ những hướng tìm kiếm mới, hy vọng cuộc tìm kiếm này sẽ mở vấn đề ra đa diện, nhiều chiều với những phương pháp tiếp cận mới, thỏa mãn được mọi băn khoăn về cội nguồn.
Nguồn: nld.com.vn

8/21/14

Những kiểu làm đẹp 'nhanh chết' của phụ nữ thời xưa

Để có được nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn theo tiêu chuẩn thời xưa, không ít phụ nữ đã tìm đến những cách làm đẹp có thể khiến họ nhanh chết

Khung đầm phồng

Váy phồng là một loại váy có khung đỡ bên trong giúp váy xòe rộng. Phụ nữ ở thế kỷ 19 đặc biệt ưa thích loại váy này, họ thường đeo một bộ khung kềnh càng bên dưới chiếc váy. Váy phồng giúp vòng eo như nhỏ lại và vòng 3 như… to hơn.

Khung váy được kết bện bằng các loại sợi hoặc đơn giản là một lồng thép.

Từ khoảng năm 1810 ở châu Âu, váy rộng bắt đầu trở thành “mốt” thời thượng. Các nhà thiết kế đương thời tìm mọi cách để tăng độ rộng của váy. Và khung đầm phồng ra đời.
Ban đầu nó được làm từ vải lanh dệt với lông đuôi hoặc bờm ngựa, tạo lớp váy lót cứng giúp váy phồng ra. Tới năm 1856, khung đầm phồng được làm từ các vòng khung thép như một chiếc lồng.
làm đẹp nhanh chết

Váy phồng giúp vòng eo như nhỏ lại và vòng 3 như… to hơn.

Váy phồng đã từng là chất liệu của những câu chuyện “kinh dị” một thời. Có những phụ nữ khi ra hải cảng, đứng trên đồi hoặc đứng ở lan can một tòa nhà cao tầng đã bất ngờ bị gió cuốn bởi với khung váy xòe như thế, họ chẳng khác nào một cánh diều.
Việc mang theo cả một chiếc “lồng” đồ sộ với đường kính lên tới 180cm như vậy khiến người mặc gặp rất nhiều khó khăn khi đi qua ô cửa hẹp, các toa xe hay việc ngồi xuống. Ví dụ như váy có thể bị kẹt vào nan xe, kích thước lớn khiến người đối diện phải đứng cách xa, hay người mặc có thể bị vấp ngã và bị té ngửa…
làm đẹp  nhanh chết

Mặc dù trở thành “mốt” nhưng khung đầm phồng cũng đem lại nhiều rắc rối và nguy hiểm cho phái nữ.

Những cái chết do khung đầm phồng mang lại không hề hiếm trong thế kỷ XIX. Năm 1863 ở Santiago (Chile), hơn 2.000 người đã thiệt mạng trong một vụ cháy nhà thờ. Được biết, khi vụ hỏa hoạn bắt đầu, mọi người đều cố gắng chạy ra ngoài. Nhưng kích thước quá khổ của những chiếc váy đã khiến nhiều phụ nữ bị kẹt ở cửa. Mọi người bị “chất đống” ở lối ra và chìm trong ngọn lửa.

Áo Corse thắt đáy lưng ong

Áo corset là loại áo chẽn bó sát cơ thể, giúp định hình vóc dáng của phái đẹp. Do thiết kế đặc trưng, chiếc áo kỳ diệu này giúp phái đẹp nhấn mạnh những đường cong và siết chặt vòng eo, khoe vẻ tròn đầy của núi đôi.Vào thế kỷ XVI, phụ nữ được coi là quý phái khi có chiếc eo “thắt đáy lưng ong”, vóc dáng “đồng hồ cát”. Vì thế, áo corset trở thành nhu cầu lớn và được hầu hết phái yếu tin dùng. Thậm chí trong nhiều thế kỷ sau, áo corset vẫn được coi như “công cụ” và “bí quyết” làm đẹp của phái nữ.
làm đẹp nhanh chết

Áo corset được coi như “công cụ” và “bí quyết” làm đẹp của phái nữ.

Công dụng của chiếc áo nịt ngực là giúp phụ nữ có được một thân hình đồng hồ cát. Phụ nữ thường “cạnh tranh” nhau ở các số đo. Thời đó, người nào càng có eo nhỏ càng đáng ngưỡng mộ. Hoàng hậu Maud (1869-1938) của Nauy vốn nổi tiếng là người có vòng eo siêu nhỏ và cho tới nay nhiều bộ váy áo của bà vẫn được đem trưng bày để mọi người có thể chiêm ngưỡng.
Một chiếc áo nịt ngực sẽ không có gì là nguy hiểm nếu phụ nữ không quá lạm dụng nó. Khi thắt chặt vòng eo, đương nhiên họ sẽ không thể thở bình thường được.
làm đẹp nhanh chết

Rất nhiều phụ nữ đã bị tử vong vì những chiếc áo này.

Không chỉ vậy, nó còn gây tổn thương cho khung xương và buồng phổi, thậm chí gây xáo trộn sự sắp xếp tự nhiên của nội tạng. Và điều này có thể gây chảy máu bên trong. Năm 1903, một người phụ nữ đã chết đột ngột do miếng thép được chèn bên trong áo corset đâm xuyên vào tim.

Trang điểm bằng chì

Trước khi có những mỹ phẩm trang điểm tiện dụng như ngày nay, phụ nữ thường phải mày mò, tự chế đồ trang điểm. Đã có thời, phụ nữ bôi chất chì lên mặt để giúp phấn “ăn da”, bám thật lâu trên da, giúp họ có được làn da trắng xanh xao, yếu ớt – một vẻ đẹp được phụ nữ quý tộc rất ưa chuộng thời bấy giờ.
làm đẹp nhanh chết

Chì giúp phấn ăn da và lâu phai hơn.

Biện pháp làm đẹp này đã có từ thời Hy Lạp cổ đại và nó còn tồn tại cho tới tận thập niên 1920 với nhiều biển thể độc hại như phấn bột hay mỹ phẩm có chứa hàm lượng chì cao.
Phụ nữ thời đó đã không biết rằng nhiễm độc chì là một cái chết từ từ và sau nhiều năm mới bắt đầu phát tác. Các triệu chứng của nhiễm độc chì rất đa dạng, nó có thể hủy hoại thần kinh, gây ra chứng đau đầu kinh niên, chán ăn, mất ngủ, thiếu máu…
làm đẹp nhanh chết

Trên thực tế, chì là kẻ giết người âm thầm và giấu mặt.

Ngoài ra, chì còn làm hỏng da, càng dùng lâu, da dẻ phụ nữ càng “xuống cấp”, làm nổi mẩn và họ lại buộc phải dùng nhiều chì, nhiều mỹ phẩm hơn nữa để che đậy. Đó là một vòng tròn luẩn quẩn chết người.
Năm 1760, một phụ nữ quý tộc Anh có tên Marie Gunning, bà nổi tiếng vì sở hữu làn da “trắng như sứ” đã chết vì ngộ độc chì. Năm 1767, nữ Kitty Fisher cũng trở thành nạn nhân tiếp theo của việc lạm dụng mỹ phẩm. Năm 1878, một phụ nữ có tên Rachel Russell làm nghề chăm sóc sắc đẹp, chuyên bán những sản phẩm có chứa hàm lượng chì cao cũng chết vì thường xuyên tiếp xúc với chì.

Kiểu tóc Fontage

Fontange là kiểu tóc dành riêng cho phụ nữ rất được ưa chuộng tại Pháp cuối thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XVIII. Nó là kiểu tóc búi cao và được trang trí thêm bằng ren hoặc dây ruy băng khá rườm rà. Theo kể lại, kiểu tóc này được Duchese de Fontanges, tình nhân của vua Pháp - Louis XIV (1638 - 1715) sáng tạo ra.
làm đẹp nhanh chết

Kiểu tóc Fontange được chị em phụ nữ ưa chuộng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII.

Trong một cuộc đi săn với nhà vua, kiểu tóc của Fontanges bị hỏng, vì vậy cô đã lấy ruy băng buộc lại. Điều này khiến nhà vua rất thích thú. Sau đó những người phụ nữ khác bắt đầu sao chép phong cách này.
Lúc đầu, kiểu Fontange gồm ruy băng, ren, vòng trang sức và đôi khi có mũ nhỏ đan xen với tóc. Sau đó nó phát triển lớn hơn thành một “tháp” cao trên đầu và bao gồm cả tóc giả. Thậm chí, người ta còn gắn nguyên cả một “hệ sinh thái” trên đầu.
làm đẹp nhanh chết

Nhiều người còn mang cả "hệ sinh thái" trên đầu.

Trông có vẻ  và khá thú vị, nhưng để giữ được cả một khối lượng lớn như vậy trên đầu thật không đơn giản chút nào. Kiểu tóc này mang lại khá nhiều rắc rối cho chủ nhân như va chạm vào các vật phía trên đầu, mất thăng bằng dẫn đến bị thương và thậm chí là tàn phế.
làm đẹp nhanh chết

Đã có trường hợp phụ nữ bị thiêu sống vì nến bén vào những dải ruy băng trên đầu.

Kiểu tóc này cũng có thể cướp đi tính mạng của chủ nhân nó, khi những đồ trang trí trên đầu họ như một loại... giẻ tẩm xăng, có thể dễ dàng bén lửa từ những chùm đèn nến trên trần nhà.

Bó chân

Tục bó chân để có được “gót sen ba thốn” là một truyền thống của phụ nữ Trung Quốc xưa kia. Tục lệ này bắt đầu tồn tại từ thế kỷ thứ 8 cho tới đầu thế kỷ 20. Người phụ nữ khi đã bó chân đi lại rất hạn chế, họ chỉ đi được những bước ngắn, không thể đi bộ đường xa và không làm được việc nặng.
làm đẹp nhanh chết

Bàn chân bị biến dạng vì tục bó chân ở Trung Quốc.

Bó chân bắt đầu từ khi bé gái được 2 - 5 tuổi, khi đó xương chân còn mềm và chưa phát triển hết. Đầu tiên, chân sẽ được ngâm trong nước lá dược thảo. Sau đó, từng bàn chân sẽ bị bẻ gẫy và cuốn gọn vào trong dải băng, nén thật chặt, kéo giật mạnh về phía gót chân. Đôi khi người ta còn tạo ra những vết cắt sâu ở lòng bàn chân để công việc được dễ dàng.
bó chân

Bó chân cũng là một trong những cách khiến phụ nữ "nhanh chết" hơn.

Trình tự này lặp đi lặp lại, mỗi lần bó mới, dải băng lại thắt chặt hơn nữa làm cho việc bó chân càng ngày càng đau đớn. Bệnh phổ biến nhất sau khi bó chân là nhiễm trùng. Móng chân sẽ mọc dài ra, đâm vào thịt làm rữa thịt, đôi khi làm rụng cả ngón chân, có thể dẫn đến tử vong.
Thời đó, những phụ nữ thượng lưu không bó chân bị coi là quê mùa, xấu xí và hầu như không được ai hỏi cưới bởi quan niệm chỉ có con nhà nông mới không bó chân vì họ phải lao động nặng nhọc.

4/29/14

Giải mã chuyện vua Hùng sống gần 700 tuổi, trị vì 400 năm

Hùng Hiền Vương (tức Lạc Long Quân) có thời gian trị vì lâu nhất, suốt 400 năm, nhưng lại có ít vợ nhất trong 18 vua Hùng, theo sách của Vũ Kim Biên.

Chuyện các vua Hùng sống đến mấy trăm năm trong thời mà tuổi thọ bình quân của người Việt chỉ vài ba chục đang gây xôn xao trên các mạng xã hội, bắt nguồn từ những tấm bia dưới chân tượng 18 vua Hùng đặt trong khuôn viên Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương, khu Văn hóa tâm linh thuộc Công viên Đồng Xanh, Gia Lai.
Kỷ lục gây sốc của các vua Hùng
Các phản ứng mỉa mai, phẫn nộ bắt nguồn từ việc những thông tin không thể có thực đó được ghi khơi khơi “như đúng rồi”, gây phản cảm vì sự đồng nhất giữa huyền sử và sự thực. Người nào phải cẩn thận lắm, đi tìm kỹ lắm mới nhìn thấy tấm biển ghi chú quay ngược ra phía sau: "Những số liệu về tên, húy, tuổi, số vợ, con, cháu của 18 Vua Hùng ghi chú trước bức tượng được trích từ nguồn tài liệu Giới thiệu Khu di tích lịch sử Đền Hùng của tác giả Vũ Kim Biên nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn do Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ xuất bản 2006". Và theo những tấm biển đề ở công viên Đồng Xanh (lấy từ nguồn tại liệu của tác giả Vũ Kim Biên), có khá nhiều thông tin “giật gân” rất thú vị về các vua Hùng.


Theo đó, vua Hùng sống thọ nhất chính là chàng Lang Liêu, người đã sáng tạo ra bánh chưng, bánh dày, khi lên ngôi lấy hiệu là Hùng Chiêu Vương. Ông sống đến 692 tuổi, làm vua trọn 2 thế kỷ.
Người có thời gian trị vì lâu nhất chính là Hùng Hiền Vương, người được đa số con Rồng cháu Tiên biết đến với cái tên Lạc Long Quân (húy là Sùng Lãm). Ông làm vua đến 400 năm, tuổi thọ cũng rất cao: 506 tuổi.
Tuy thời gian trị vì và tuổi thọ đều thuộc hàng top trong 18 vua Hùng nhưng Lạc Long Quân lại chỉ có 9 bà vợ, trong khi các vua Hùng khác thường cưới đến vài chục phu nhân. Có điều, về đường con cái, các bà vợ của ông lại có hiệu suất cao nhất, giúp Lạc Long Quân đứng đầu về số con: 180 con trai và 29 con gái. Trong đó, chỉ riêng bà Âu Cơ đã sinh ra 100 người con trai, được coi là thủy tổ của 100 tộc Bách Việt.

So với cha mình là Kinh Dương Vương, được coi là vị vua Hùng đầu tiên, Lạc Long Quân “vượt mặt” cả về tuổi thọ, số năm làm vua lẫn số vợ và con. Kinh Dương Vương (húy Lộc Tục) chỉ sống 260 tuổi, trị vì 216 năm, là người có ít thê thiếp nhất, chỉ 6 vợ, sinh 44 con.
Hiệu suất sinh nở thấp nhất thuộc về vị vua Hùng cũng rất nổi tiếng vì là bố vợ của Chử Đồng Tử và Tản Viên sơn thánh (Sơn Tinh), hai trong 4 vị Tứ bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam. Đó là Hùng Duệ Vương, húy Huệ Lang, người có 150 năm trị vì và 221 tuổi thọ. Người được coi là vua Hùng thứ 18 này giữ kỷ lục vương triều về số vợ, những 100 bà, nhưng lại chỉ có 20 con trai và 4 con gái (trong đó có công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử và công chúa Ngọc Hoa lấy Tản Viên). Nghĩa là nếu không bà vợ nào của Hùng Duệ Vương sinh quá 1 con, có hơn 3/4 trong số các bà bị vô sinh).

“Á quân” cả về chuyện lấy nhiều vợ lẫn sự kém cỏi đường con cái là Hùng Chiêu Vương – Lang Liêu. Ông lấy 60 bà vợ nhưng chỉ sinh có 59 người con, nghĩa là nếu chia trung bình mỗi vợ chỉ sinh một con thì vẫn có một bà vô sinh.
Hiểu thế nào về chuyện các vua Hùng sống và trị vì nhiều thế kỷ?
Thực ra, chuyện về vương hiệu, húy, tuổi thọ, thời gian trị vì cũng như số vợ, số con cháu… của 18 vua Hùng được ghi trong các bản Ngọc phả. Có khá nhiều bản Ngọc phả liệt kê về các đời vua Hùng, hiện còn ít nhất 3 bản lưu lại được. Trong đó sớm nhất là bản “Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền”, còn gọi là “Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền”, soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (năm 986, thời vua Lê Đại Hành). Muộn hơn có “Hùng Vương ngọc phả thập bát thế truyền”, do Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyên Cố soạn năm Hồng Đức nguyên niên (năm 1470, thời vua Lê Thánh Tông), và “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền”, do Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572, thời vua Lê Anh Tông).
Những thông tin được ghi trong Ngọc phả không phải là lịch sử, bởi nó là do con cháu đời sau chép lại từ những truyền thuyết lưu truyền trong dân gian qua con đường truyền miệng, mang nhiều màu sắc thần thoại, hoang đường. Nếu như các văn bản lịch sử thời Hùng Vương có tồn tại thì chúng cũng đã bị người Hán hủy hoại trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, với mục đích tiêu diệt văn hóa Việt, đồng hóa dân tộc Việt.
Người Việt đã lưu giữ ký ức của dân tộc mình và truyền cho con cháu qua các chuyện kể, và theo thời gian, những yếu tố hư cấu, thần kỳ được bồi đắp vào. Chuyện về các vua Hùng cũng vậy. Do đó, tuy không phải là lịch sử nhưng trong Ngọc phả có bóng dáng của lịch sử, mà muốn tiếp nhận thì phải biết chắt lọc thông tin, kết hợp với các sử liệu khác được viết ra trong đời sau, cùng kết quả của khảo cổ học. Các nhà sử học hiện đại cũng đã cố gắng làm điều đó để có hình dung rõ nét nhất về nước Việt thời các vua Hùng, và dĩ nhiên không có chuyện mỗi vua Hùng sống và trị vì suốt mấy trăm năm.
Về số năm trị vì của các vua Hùng, các nhà sử học đưa ra hai quan điểm. Theo quan điểm thứ nhất, triều đại Hùng Vương kéo dài 2.622 năm, bắt đầu từ năm lên ngôi của Kinh Dương Vương (năm Nhâm Tuất, 2879 trước công nguyên) và kết thúc vào năm Quý Mão (258 trước công nguyên) khi vua Hùng mất ngôi vào tay Thục Phán An Dương Vương. Mốc thời gian này được xác định theo Ngọc phả Hùng Vương và Đại việt sử ký toàn thư. Nếu đem 2.622 năm chia cho 18, mỗi vua Hùng trị vì đến 145 năm.
“Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế? Điều ấy càng không thể hiểu được”, nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết trong “Việt sử tiêu án”.
Cái điều mà Ngô Thì Sĩ không thể hiểu được ấy, nhiều sử gia ngày nay đã tìm cách lý giải. Theo đó, triều đại Hùng Vương không phải có 18 ông vua, mà là 18 ngành (nhánh), mỗi ngành có nhiều ông vua nối nhau trị vì và dùng chung vương hiệu, khi hết một ngành mới đổi vương hiệu mới (chẳng hạn có nhiều ông vua nối nhau cùng gọi là Hùng Hiền Vương, thuộc ngành đầu tiên). Theo bản Ngọc Phả được soạn thời Lê Đại Hành, 18 ngành có tổng cộng 180 đời vua, như vậy nếu chia trung bình ra thì mỗi ông vua chỉ trị vì chưa đến 15 năm.
Mặt khác, nhiều nhà sử học cho rằng, ngay cả con số 18, dù là 18 đời vua hay 18 ngành vua, cũng mang tính tượng trưng, ước lệ chứ không nên hiểu một cách cụ thể, chính xác. 18 là con số đẹp, bội số của 9, con số thiêng của người Việt (khi thách cưới, vua Hùng thứ 18 cũng đòi các chàng trai muốn lấy công chúa Mỵ Nương phải mang đến voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao).
Quan điểm khác cho rằng, triều đại Hùng Vương chỉ tồn tại trong hơn 400 năm, căn cứ vào việc cuốn “Đại Việt sử lược” ghi: "Đời vua Trang Vương nhà Chu (696 - 682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người dị kỳ biết dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương". Tính từ thời Chu Trang Vương đến năm Thục Phán thay Hùng Vương cai trị đất Việt, có thể thấy 18 đời vua Hùng chỉ diễn ra trong hơn 4 thế kỷ, như vậy trung bình mỗi vua Hùng trị vì 24 năm.
Quan điểm này được nhiều sử gia ủng hộ hơn, bởi nếu triều đại Hùng Vương kéo dài 2.622 năm thì nhà nước của chúng ta hình thành cách đây tới 5.000 năm, trong khi các kết quả khảo cổ cho thấy, 4000 năm trước, chúng ta vẫn ở giai đoạn Hậu kỳ Đá mới (văn hóa Phùng Nguyên), trình độ kinh tế - kỹ thuật chưa thể đủ để hình thành quốc gia. Thời đại Hùng Vương tương ứng với giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của thời đồ đồng, tương ứng với nền văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 2.500 – 2.600 năm. Năm 258 trước công nguyên, triều đại Hùng Vương kết thúc, như vậy “tuổi thọ” của nó tính ra cũng chỉ khoảng 400 năm mà thôi.
Nguồn: http://www.baomoi.com/Giai-ma-chuyen-vua-Hung-song-gan-700-tuoi-tri-vi-400-nam/54/13556883.epi